Bổ dương Ung thư tiểu đường mất ngủ sỏi thận suy thận béo phì Huyết áp cao Bệnh trĩ Viêm dạ dày Đại tràng Xương khớp Dưỡng da Tóc bạc sớm Bồi bổ Viêm gan B

Ngũ vị, ngũ tạng, ngũ hành và sự tương hợp qua cây thuốc nam

Cao chè vằng nguyên chất
Đã bao giờ bạn thắc mắc vì sao khi bị ho mọi người tránh ăn đồ ngọt nhưng thuốc ho lại thường có vị ngọt không? Từ những chai thuốc siro ho đến những gói thuốc tán và ngay cả viên kẹo ngậm giúp giảm ho cũng đều có hai vị cơ bản là ngọt và cay the. Vì sao vậy?

Khi đặt năm vị cơ bản là ngọt, cay, chua, đắng, mặn trong mối quan hệ với ngũ tạng và ngũ hành, chúng ta sẽ thấy có sự tương hợp nhất định giữa các vị cây thuốc nam và cơ quan mà nó tác động.

VỊ CAY QUY VÀO PHẾ

Theo lý thuyết về ngũ hành thì vị cay ứng với hành Kim và quy vào phổi (Phế). Có thể thấy, vào mùa đông hay khi thời tiết lạnh, có gió lùa, dân gian thường chọn các thức ăn có vị cay, nồng để làm ấm phổi.

Món kẹo gừng rất phổ biến vào dịp Tết với vị cay của gừng sẽ giúp ấp phổi, trừ ho (vì đây là lúc giao mùa, khí trời vẫn còn lạnh).

  • Để điều trị ho có đàm, người ta ngậm gừng đã giã giập với mật ong.
  • Để điều trị chứng khó thở, có thể ngậm một lát gừng tươi thật mỏng rồi nuốt từ từ.
  • Hay như cây sả có vị cay và nó cũng được biết với công dụng thông khí, tiêu đờm (rửa sạch củ và lá rồi dùng tươi hoặc sao rồi nấu nước).
  • Rau diếp cá cũng có vị cay, hơi chua và ta có thể thấy nhiều bài thuốc liên quan đến các bệnh về đường hô hấp từ loại cây này, trong đó có bài thuốc rất đơn giản là sắc 50 g rau diếp cá rồi uống khi còn ấm giúp điều trị viêm phổi, viêm ruột, viêm thận, phù thũng…

Như thế, có thể thấy rằng, vị cay the trong hầu hết thuốc ho là minh chứng cho sự quy chiếu, tác động của nó vào phổi của người bệnh, giúp khắc phục bệnh ho. Tuy nhiên, vì sao thuốc ho ngoài vị cay the lại còn có vị ngọt?

Ta thấy, nếu không kể đến thành phần các cây thuốc có sẵn vị ngọt và cay trong công thức điều chế thuốc ho thì người ta vẫn thường cho thêm mật ong hoặc đường vào các bài thuốc ho.

Một mặt, vị ngọt sẽ giúp thuốc dễ uống nhưng mặt khác, chính vị ngọt ứng với hành Thổ sẽ quy vào tỳ, giúp làm dịu sự tác động của vị cay vào tỳ và khi tỳ khỏe mạnh thì nó cũng thúc đẩy phổi khỏe mạnh (theo nguyên lý ngũ hành tương sinh thì Thổ (Tỳ) sinh Kim (Phế)).

VỊ NGỌT QUY VÀO TỲ

Như vừa nói, vị ngọt sẽ giúp bổ trợ cho tỷ hay hệ tiêu hóa nói chung. Có thể thấy rằng nhiều cây thuốc giúp trị các bệnh về tiêu hóa, giúp bổ tỳ đều có vị ngọt. Chẳng hạn:

  • Hạt y dĩ (bo bo) vị ngọt, thông vào tỳ, phế, giúp bồi bổ cơ thể, trị tiêu chảy, viêm đại tràng… Đặc biệt, bài thuốc dùng hạt ý dĩ giã nát, sắc lấy nước rồi cho thêm chút rượu (cay) để dẫn thuốc vào phổi, giúp trị chứng ho, khạc ra đờm có mùi tanh cũng là một minh chứng cho vị ngọt thì quy vào tỳ, vị cay thì quy vào phế.
  • Rau khúc: vị ngọt, quy vào tỳ, phế. Để tiêu đàm và trị ho, người ta dùng khoảng 12 đến 15 g lá rau khúc sắc với 300 ml nước, sắc còn 100 ml thì chia thành 2 lần uống hàng ngày.
  • Đẳng sâm: vị ngọt, tác động vào tỳ, phế, giúp tăng cường hệ tiêu hóa… Trong đó, rượu đẳng sâm là bài thuốc tiện dụng và phổ biến nhất.
  • Đặc biệt, trong Đông y, đất (hoàng thổ) cũng được xem là một vị thuốc với vị ngọt. Người ta lựa lấy đất màu vàng, tinh sạch rồi phơi khô, tán bột, hòa vào nước lắng trong rồi uống để bổ tỳ, giải độc, trị tả lỵ, bụng quặn đau do nhiệt độc.

VỊ MẶN QUY VÀO THẬN

Thuốc có vị mặn ứng với hành Thủy và quy vào thận. Chúng ta có thể thấy khá nhiều các cây thuốc, bài thuốc có vị mặn với nhiều tác dụng khác nhau, trong đó tác dụng chính là bổ thận, giúp điều trị các bệnh về thận (hay hệ bài tiết nói chung).

  • Chẳng hạn, hạt kê có vị hơi ngọt và hơi mặn, tác động vào tỳ và thận. Trên thực tế, loại hạt này đã được dùng nhiều trong các bài thuốc giúp tăng cường chức năng của hệ tiêu hóa và giúp bổ thận.
  • Hay như củ cói (củ lác) có vị mặn, hơi đắng và ta thấy, trong các bài thuốc bằng củ cói thì có bài điều trị bệnh bí tiểu, đầy tức, giúp lợi tiểu (bằng cách xắt mỏng, phơi khô, nấu nước uống).
  • Hay như hạt muồng hòe (muồng ngủ) có vị mặn giúp bổ thận và sáng mắt, mát gan (bằng cách hái hạt phơi thật khô, sao qua).
  • Không chỉ thế, tổ bọ ngựa trên cành dâu (tang phiêu diêu) có vị mặn lẫn ngọt và bài thuốc chính của nó cũng liên quan đến thận: điều trị đổ mồ hôi trộm, di tinh, bạch đới, tiểu đục, đi tiểu không nín được (hái tổ bọ ngựa trên cành dâu, sao thơm rồi ngâm rượu, uống mỗi ngày khoảng 8 g với nước chín).

VỊ ĐẮNG QUY VÀO TIM

Thuốc có vị đắng ứng với hành Hỏa và quy vào tim (Tâm). Có thể kể tên những cây thuốc có vị đắng với những tác dụng đáng kể đối với tim như:

  • Trắc bá diệp: vị đắng, chát và được dùng làm thuốc bổ tim (dưỡng tâm đan)
  • Đan sâm: có vị đắng và trong y học Trung Hoa cũng như Việt Nam, đan sâm được dùng để điều trị rất nhiều chứng bệnh, trong đó có các bệnh về tim mạch, máu huyết và đột quỵ.

VỊ CHUA QUY VÀO GAN

Thuốc có vị chua ứng với hành Mộc và quy vào lá gan trong cơ thể người. Có thể kể ra đây một số cây thuốc có vị chua và được sử dụng trong điều trị các bệnh về gan, giúp thanh nhiệt, giải độc như:

  • Cây lưỡi bò có vị đắng, hơi chua và được biết đến với công dụng tiêu viêm nhiễm, sát trùng (dùng củ rửa sạch, thái mỏng, phơi khô và sắc uống).
  • Rau sam có vị chua và được dùng để thanh nhiệt, giải độc, điều trị mụn nhọt (uống tươi hoặc nhúng vào nước sôi rồi phơi khô).

Nhìn chung, không phải hễ vị thuốc nào có vị chua là sẽ giúp điều trị bệnh về gan, đắng sẽ điều trị các bệnh về tim mạch, ngọt là sẽ điều trị về tiêu hóa… Trên thực tế, thảo dược và mùi vị, đặc tính, công năng của nó là vô cùng đa dạng, phức tạp, đầy hấp dẫn và vẫn đang chờ chúng ta khám phá.

Ở đây, đi tìm điểm tương hợp giữa vị của thuốc và cơ quan mà nó tác động qua các trường hợp phổ biến là một cách để chúng ta hiểu về cây thuốc và thấy gần gũi, yêu quý nó hơn.

Nếu thấy bài viết trên có ích, các bạn hãy chia sẻ trên Facebook cho người thân và bạn bè mình biết nhé. Cảm ơn bạn!
Thẻ:

Gửi câu hỏi cần giải đáp: